Các thủ pháp xoa bóp
Vuốt: được tiến hành bằng đầu ngón tay, gan bàn tay, cùi tay trên bề mặt da. Động tác xoa vuốt được làm liên tục theo chiều dọc từ khớp nọ đến khớp kia.
Xát: cũng như vuốt nhưng tay đè mạnh lên da hơn.
Bóp: là thủ pháp dùng các ngón tay nắm, kéo và ấn nhẹ cơ, nhẹ nhàng mềm mại di chuyển dần dần các ngón tay từ đầu này đến đầu kia của cơ. Bóp có tác dụng sâu đến phần được XB hơn.
Vỗ, chặt: được thực hiện bằng gan bàn tay hơi cong lại hoặc bằng cạnh bàn tay.
Rung, lắc: được thực hiện ở tay, chân khi cơ bị mất trương lực.
Một số tư thế khi tự tiến hành xoa bóp
Tư thế 1: ngồi trên giường, tựa thoải mái, hai chân hơi co và thả lỏng. Ở tư thế này có thể vuốt, xát các ngón chân, khớp cổ chân, gân A-sin. Vuốt, xát, bóp, rung cơ bắp chân và các cơ ở mặt trước cẳng chân, khớp gối.
Tư thế 2: ngồi trên giường, chân được XB hơi co, còn chân kia thả xuống sàn, có thể vuốt, xát, bóp, rung các cơ ở mặt trước và trong đùi.
Tư thế 3: nằm nghiêng, có thể vuốt, xát, bóp, vỗ, lắc mặt ngoài đùi.
Tư thế 4: đứng dồn sức nặng sang một chân để được XB thả lỏng. Có thể tiến hành vuốt, xát, bóp, vỗ cơ mông.
Tư thế 5: đứng bằng hai chân, dùng gan bàn tay sau đó là mu các ngón tay để vuốt, xát vùng thắt lưng, các khớp và cơ của lưng.
Tư thế 6: nằm, có thể vuốt, xát, bóp, các cơ của ngực, các cơ liên sườn, vuốt bụng theo chiều kim đồng hồ.
Tư thế 7: ngồi trên giường, chân co ở khớp gối, đặt cẳng tay lên đùi (tay trái lên đùi trái) hoặc ngồi sau bàn tay thoải mái ở phía trước. Có thể vuốt, xát, bóp các ngón tay, gan bàn tay, khớp cổ tay, cơ vai và gáy.